Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại

Theo quy định tại điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự thì Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

Theo quy định tại Điều khoản 2 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong những trường hợp: Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng; người được Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội.

Việc Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong trường hợp thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng đã được quy định trước đây ở Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, nếu Viện kiểm sát kháng nghị và Toà án cấp phúc thẩm cũng chấp nhận kháng nghị huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại thì cần nêu rõ lý do của việc vi phạm. Thực tiễn xét xử cũng có nhiều trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị với lý do Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng Toà án cấp phúc thẩm đã không chấp nhận kháng nghị vì cho rằng vi phạm thủ tục tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm chưa phải là vi phạm nghiêm trọng, có trường hợp Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại với lý do Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng bản án phúc thẩm lại bọ kháng nghị giám đốc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm đã huỷ bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo hướng không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.v.v…Việc xác định thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xét xử sơ thẩm là một vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Tuy nhiên, việc Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại trong trường hợp “người được Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội” do mới được quy định tại Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nên còn nhận thức khác nhau về phạm vi xác định thế nào là “không có tội”. Trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành, nếu Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội nhưng có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc có kháng cáo của người bị hại thì Toà án cấp phúc thẩm đều tuyên bố bị cáo có tội nếu Toà án cấp phúc thẩm xác định có căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì việc Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội trong khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội là không bảo đảm quyền bào chữa và quyền kháng cáo của bị cáo. Toà án nhân dân tối cao cũng đã hướng dẫn Toà án cấp phúc thẩm nếu gặp trường hợp Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội, nhưng Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội mà Toà án cấp phúc thẩm cũng xác định có căn cứ bị cáo phạm tội thì y án sơ thẩm và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xét lại vụ án. Sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có hiệu lực pháp luật vẫn còn có những kháng nghị yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo có tội mà Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố không phạm tội.

Việc kháng nghị yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng tuyên bố bị cáo có tội trong trường hợp bị cáo thực hiện một hành vi phạm tội và phạm vào một tội danh mà Bộ luật hình sự quy định, nói chung không có vấn đề vướng mắc, nhất là sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử có trường hợp Toà án cấp sơ thẩm vẫn tuyên bố bị cáo phạm tội như cáo trang Viện kiểm sát truy tố, nhưng đã bỏ lọt một hoặc một số hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, nhưng Toà án cấp sơ thẩm xác định hành vi đó không phải là tội phạm. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố A thực hiện 4 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 4 người với tổng số tiền là 300 triệu đồng, nhưng tại phiên toà sơ thẩm Hội đồng xét xử chỉ xác định A lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 2 người với tổng số tiền là 180 triệu đồng, còn 2 hành vi mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo A đối với 2 người không phải là hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm kết án bị cáo A về cả 4 hành vi, với lý do Toà án cấp sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi phạm tội.

Vẫn đề đặt ra là, nếu coi trường hợp này là trường hợp Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm thì Toà án cấp phúc thẩm không có quyền sửa bản án Toà án cấp sơ thẩm để kết án bị cáo A cả 4 hành vi lừa đảo mà phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại, còn nếu cho rằng trường hợp này không phải là bỏ lọt tội phạm mà chỉ là trường hợp Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn thì Toà án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội năng hơn để kết án bị cáo A cả 4 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 4 người.

Đây là vấn đề khá phức tạp mà sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực pháp luật chưa có giải thích hoặc hướng dẫn. Do đó thực tiễn xét xử mỗi nơi thực hiện khác nhau và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đã ít nhiều bị vi phạm.

Liên quan đến việc bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo có thể thuộc một trong các trường hợp sau:

- Viện kiểm sát truy tố bị cáo nhiều tội danh khác nhau, nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm một hoặc một số tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố Trần Văn M phạm tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng Toà án cấp sơ thẩm chỉ kết án bị cáo M về tội trộm cắp tài sản và tuyên bố bị cáo M không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

- Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều hành vi phạm tội về nhiều tội danh khác nhau trong cùng một điều luật (tội ghép), nhưng Toà án cấp sơ thẩm chỉ kết án bị cáo một hoặc một số hành vi phạm tội về một hoặc một số tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố Phạm Thanh B phạm tội “tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 94 Bộ luật hình sự, nhưng Toà án cấp sơ thẩm xác định Phạm Thanh B chỉ phạm tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng vẫn thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự;

- Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều hành vi phạm tội khác nhau cùng về một tội danh, nhưng Toà án cấp sơ thẩm không kết án bị cáo tất cả các hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, mà chỉ kết án một hoặc một số hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố Vũ Khắc X lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của 5 người với tổng số tiền là 700 triệu thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 140 Bộ luật hình sự, nhưng Toà án cấp sơ thẩm xác định Vũ Khắc X chỉ chiếm đoạt của 3 người với tổng số tiền là 300 triệu đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 140 Bộ luật hình sự.

Cho đến nay, việc bỏ lọt hành vi phạm tội cũng như việc kết án “thừa” hành vi phạm tội được nhìn nhận không khắt khe bằng trường hợp bỏ lọt ngườiphạm tội và kết án oan một người, nên đa số cho rằng, việc Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi phạm tội chỉ là một sai sót và nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm cũng chỉ coi đây là trường hợp cần áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn để sửa bản án sơ thẩm. Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này, mà phải coi đây là trường hợp bỏ lọt tội phạm và nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm không được sửa bản án sơ thẩm mà phải huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. Toà án cấp phúc thẩm chỉ áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn trong trường hợp hành vi phạm tội của bị cáo đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn. Bỏ lọt tội phạm hay bỏ lọt hành vi phạm tội về bản chất chỉ là một. Gặp trường hợp này, theo chúng tôi, nếu không có kháng cáo thì Viện kiểm sát cũng không nên kháng nghị phúc thẩm mà nên để hết hạn kháng nghị Viện kiểm sát sẽ kháng nghị giám đốc thẩm, vừa bảo đảm tính đúng đắn của pháp luật vừa tránh việc hiểu khác nhau về thẩm quyền quyết định của Toà án cấp phúc thẩm.

Nguồn: Toaan.gov.vn

Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6218
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]