Lỗi trong luật hình sự

Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu quan trọng trong cấu thành tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Trong đó, lỗi là dấu hiệu quan trọng nhất, là nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan...

Một trong những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu Luật hình sự Việt Nam đó là nhận diện được yếu tố lỗi của người phạm tội. Ranh giới giữa các loại lỗi là rất nhỏ và ranh giới giữa các tội tương tự cũng rất khó để phân biệt. Nên xác định được các lỗi chính là cơ sở để định tội chuẩn xác.

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

1. Khái niệm về lỗi trong luật Hình sự

- Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.

- Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ 2 điều kiện:
+ Hành vi trái pháp luật hình sự: là những hành vi thực hiện không đúng quy định của pháp luật, xâ phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ.
+ Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.

- Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính có lỗi của tội phạm. Lỗi là một yếu tố quan trọng để nhận biết tội phạm, nó là yếu tố bên trong và là nguyên nhân chủ quan của tội phạm.
Ví dụ: Xuất phát từ mâu thuẫn nhà đất, A ra tay đánh B gây thương tích với tỷ lệ thương tật là trên 20%. Trong trường hợp này, hành vi ra tay đánh B của A là hành vi có lỗi, nó xuất phát từ yếu tố tâm lý bên trong của A làm A mất kiểm soát và đã dẫn tới việc A thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội mà đối tượng trực tiếp ở đây là quyền con người được Nhà nước thông qua pháp luật Hình sự bảo vệ. Đây là kết quả của sự tự lựa chọn đưa ra quyết định của A trong khi A có thể đưa ra sự lựa chọn khác không trái với quy định của pháp luật.

- Chủ thể của một hành vi được coi là có lỗi khi thỏa mãn 2 điều kiện: đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không bị mất năng lực hành vi theo quy định của pháp luật.

2. Các hình thức lỗi

- Lỗi cố ý trực tiếp quy định tại Khoản 1 Điều 10 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHHS) như sau: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

- Lỗi cố ý gián tiếp quy định tại Khoản 2 Điều 10 BLHS như sau: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

- Lỗi vô ý vì quá tự tin được quy định tại Khoản 1 Điều 11 BLHS như sau: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

- Lỗi vô ý do cẩu thả quy định tại Khoản 2 Điều 11 BLHS như sau: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:
  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: [email protected], [email protected]