Nguyên tắc thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân còn thể diện trong mối quan hệ giữa họ với nhau với tư cách là thành viên của Hội đồng xét xử vụ án đó. Họ độc lập và ngang quyền với nhau trong việc xem xét.

Nguyên tắc này đòi hỏi, thẩm phánhội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử vụ án hình sự sẽ quyết định các vấn đề trong đó có việc ra bản án một cách độc lập chỉ dựa vào các chứng cứ khách quan ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm của mình mà không lệ thuộc vào bất kỳ sự chỉ đạo, tác động, sức ép của bât kỳ cơ quan, cá nhân khác.

Quy định của pháp luật về nguyên tắc thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nguyên tắc thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật:

‘‘Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.’’

Bình luận về quy định Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Thứ nhất, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập. Đây là nguyên tắc đã được quy định trong Hiến pháp. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác của các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm, bảo đảm chất lượng của hoạt động xét xử.

Nguyên tắc này đòi hỏi, thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử vụ án hình sự sẽ quyết định các vấn đề trong đó có việc ra bản án một cách độc lập chỉ dựa vào các chứng cứ khách quan ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm của mình mà không lệ thuộc vào bất kỳ sự chỉ đạo, tác động, sức ép của bât kỳ cơ quan, cá nhân khác.

Thứ hai, trước hết là sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân với tòa án mà họ đang làm việc, độc lập giữa tòa án cấp trên và tòa án cấp dưới. Chánh án với tư cách là người lãnh đạo tòa án không có quyền can thiệp, chi đạo, gây sức ép đối với thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình họ giải quyết vụ án.

Tòa án cấp trên không có quyền chỉ đạo tòa án cấp dưới trong việc giải quyết vụ án. Độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân còn thể diện trong mối quan hệ giữa họ với nhau với tư cách là thành viên của Hội đồng xét xử vụ án đó. Họ độc lập và ngang quyền với nhau trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ, trình bày quan điểm, biểu quyết về vấn các vấn đề của vụ án.

Thứ ba, sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân còn thể hiện trong mối quan hệ với bên ngoài. Trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, viện kiểm sát. Thẩm phán và hội thẩm nhân dân không phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát. Bên cạnh đó, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có quyền bằng cách này hay cách khác buộc thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải ra bản án, quyết định theo ý mình.

Thứ tư, nguyên tắc này nhấn mạnh: Thẩm phán độc lập nhưng phải tuân theo pháp luật. Thẩm phán, hội thẩm nhân dân chỉ độc lập khi họ tuân theo pháp luật và nếu tuân theo pháp luật thì họ mới độc lập. Như vậy độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân không có nghĩa là là độc lập tuyệt đối mà giới hạn của sự độc lập đó chính là pháp luật. Sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân không thể vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật, bất chấp pháp luật, phải loại trừ hành vi vượt quyền, lạm quyền, vi phạm pháp luật, vi phạm nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Thứ năm, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, pháp luật có những biện pháp xử lý hành vi xâm phạm đến sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân: Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Khuyến nghị:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: [email protected]