Phân tích tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản trong BLHS 2015

Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là hành vi của một người tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, nhưng cho rằng thiệt hại đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn để mặc cho sự việc xảy ra.

Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản như sau:

"1. Người nào vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm".
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Nếu tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước người phạm tội là người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản bị thiệt hại, còn ở tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản người phạm tội không có nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản bị thiệt hại.
Tài sản bị thiệt hại trong tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước là tài sản Nhà nước, còn tài sản bị thiệt hại trong tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là tài sản của công dân, của tổ chức xã hội, tổ chức nước ngoài… không phải là tài sản của Nhà nước.
Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản lần đầu tiên được quy định tại Điều 145 Bộ luật hình sự 1999 trên cơ sở là nhập từ tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tạ Điều 140 và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân quy định tại Điều 161 Bộ luật hình sự năm 1985. Trong BLHS 2015, tội này được quy định tại điều 180 và vẫn giữ nguyên về tên tội danh, được thiết kế thành 02 khoản với khoản 1 là cấu thành cơ bản, khoản 2 là cấu thành tăng nặng.

1. Các yếu tố cấu thành tội phạm

a. Chủ thể thực hiện tội phạm

Đối với tội Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác. Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này có hai khoản nhưng không có trường hợp nào quy định là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và điều 12 BLHS cũng không liệt kê đây là tội phạm mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

b. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi phạm tội
Hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản do người phạm tội thực hiện tương đối đa dạng, vừa hành động, vừa không hành động. Nếu chỉ xét về hành vi không xét đến yếu tố lỗi thì hành vi gây thiệt hại đến tài sản cũng tương tự như hành vi của tội huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản ( bị đốt cháy, bị mất, bị hư hỏng…)
Thông thường, người phạm tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản đã vi phạm những thể lệ, những quy tắc sinh hoạt xã hội mà ai cũng biết và không xử sự như người phạm tội.
- Hậu quả và mối quan hệ nhân quả
Hậu quả của tội phạm này là thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, ngoài ra không có thiệt hại nào khác.
Điều 180 BLHS quy định trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì sẽ bị xử lý theo khoản 1, trên 500.000.000 đồng thì tăng nặng theo khoản 2.

c. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của được thực hiện do vô ý. Cũng như đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cũng gồm cả hai trường hợp: Vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả.

d. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cũng tương tự như các tội xâm phạm sở hữu khác, nhưng tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cũng không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu và khác với các tội có tính chất chiếm đoạt là người phạm tội không chiếm đoạt tài sản mà chỉ làm mất, làm hỏng tài sản. Nếu chỉ xét về tài sản bị thiệt hại thì cũng tương tự như tài sản bị mất mát, hư hỏng trong tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, chỉ khác nhau ở chỗ trong tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hành vi gây thiệt hại là do cố ý và ở tội thiếu trách nhiệm gây thiệt nghiêm trọng đén tài sản Nhà nước, hành vi gây thiệt hại là của người có trách nhiệm trực tiếp quản lý tài sản và tài sản bị thiệt hại là tài sản của Nhà nước. Trong tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản cũng có trường hợp tài sản bị thiệt hại là tài sản của Nhà nước nhưng không phải do người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản đó gây ra.

2. Hình phạt

- Phạm tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì sẽ bị xử lý theo khoản 1 thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
Đây là trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự, là cấu thành cơ bản của tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
- Khoản 2 của điều luật chỉ có một tình tiết định khung hình phạt, đó là giá trị tài sản bị thiệt hại là từ 500.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Việc xác định giá trị tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng quy định ở khoản 1 của điều luật cũng như từ 500.000.000 đồng trở lên quy định ở khoản 2 của điều luật là giá trị vào thời điểm xảy ra vụ án (từ khi thực hiện hành vi phạm tội).


Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Chi nhánh Tây Hà Nội:Tầng 9, tòa nhà 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
  3. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  4. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6198
  5. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]