Phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị: công tác phục vụ và hậu phiên họp

Thông báo kết quả phiên họp, thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu đồ vật liên quan là những công tác cần có để dẫn dắt một phiên họp đi đến hoàn thiện. Bên cạnh đó, việc mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị này cũng có thời hạn nhất định.

Theo đó các điều khoản này đã được quy định rõ tại các điều 408,409 và 410 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018).
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Đầu tiên, về vấn đề thông báo kết quả phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị được quy định trong điều 408 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

“Sau khi kết thúc phiên họp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi văn bản thông báo kết quả phiên họp về việc nhất trí hoặc không nhất trí kiến nghị, đề nghị cho Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu rõ lý do của việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp không nhất trí kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.”

Thứ nhất, trường hợp nhất trí với kiến nghị, đề nghị, Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao gửi vãn bản thông báo kết quả và nêu rõ lý do nhất trí cho ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thứ hai, trường hợp không nhất trí với kiến nghị, đề nghị, Hội đồng thẩm phăp Tòa án nhân dân tối cao gửi văn bản thông báo kết quả và nêu rõ lý do không nhất trí cho ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, ủy ban tư pháp cửa Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền báo cáo ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Tiếp theo, về vấn đề thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được quy định rõ trong điều 409 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

“1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần thiết.
2. Việc thẩm định hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.”

Thứ nhất, để giải quyết đúng đắn yêu cầu đề nghị, kiến nghị, xem xét quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tức là xác định sự phù hợp đầy đủ và chính xác của hồ sơ vụ án, các chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan thì việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần thiết là vô cùng quan trọng.

Thứ hai, việc thẩm tra hồ sơ vụ án là nhiệm vụ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật này( Điều 88. Thu thập chứng cứ)

Cuối cùng, việc thẩm định hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đông Thẩm phán Tòa án nhân dân tồi cao.

Thời hạn mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng được quy định rõ tại điều 410 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

“1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo.”

Theo đó, trong trường hợp ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại quyết định hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu hay quyết định và thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: [email protected]