Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Bộ luật tố tụng hình sự quy định về việc Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử tại điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Điều 181. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố

Nếu xét thấy có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật này hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự, thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.”

Như vậy, các căn cứ để Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử gồm:

1. Các căn cứ được quy định tại điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự

- Không có sự việc phạm tội: Không có sự việc phạm tội là tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với một hoặc một số người theo Bộ luật hình sự không xảy ra trong thực tế. Trong quá trình tố tụng các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thể phát hiện vụ án đã khởi tố không xảy ra và tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng mà ra quyết định đình chỉ vụ án, nhưng cũng có trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát mới phát hiện tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo không xảy ra, nên rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.

- Hành vi không cấu thành tội phạm: là trường hợp có một người hoặc một số người thực hiện một hoặc một số hành vi, nhưng hành vi của họ không cấu thành tội phạm. Hành vi không cấu thành tội phạm có thể là hành vi vi phạm pháp luật hoặc đó là hành vi hợp pháp, nhưng do đánh giá sai tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi nên đã truy tố người thực hiện hành vi đó về một tội mà Bộ luật hình sự quy định. Hành vi không cấu thành tội phạm được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau: Hành vi thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự "tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể"; Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm; Hành vi không cấu thành tội phạm là thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự như: phòng về chính đáng; sự kiện bất ngờ; tình thế cấp thiết; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6218
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

- Người mà hành vi của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Việc truy tố một người có hành vi phạm tội phải tuân theo nguyên tắc: Một hành vi phạm tội chỉ bị xử lý một lần. Vì vậy, khi khởi tố vụ án hình sự và suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu ở giai đoạn nào phát hiện hành vi phạm tội đang bị truy cứu đã có một bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự, không được khởi tố bị can, không được truy tố, không được đưa ra xét xử; nếu đã đưa ra xét xử thì không được kết án người đã có hành vi đó nữa. Trường hợp nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện việc kết án đó là trái pháp luật thì thì cấp giám đốc thẩm phải huỷ bản án đã có hiệu lực và đình chỉ vụ án đối với người bị kết án.

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn theo quy định của pháp luật kể từ khi thực hiện tội phạm sau một thời gian nhất định nếu cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ thì không được truy cứu nữa. thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng; Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới. Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người phạm tội ra tự thú hoặc bị bắt giữ. Thời gian trốn tránh nếu không có lệnh truy nã thì vẫn được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Tội phạm đã được đại xá: Một người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng trước khi bị khởi tố, tội phạm đó đã được đại xá thì người có hành vi phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thực tiễn xét xử, hầu như không có trường hợp nào một tội phạm đã được đại xá mà người phạm tội lại vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác: Nói chung, một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết trước khi khởi tố vụ án hình sự thì không khởi tố vụ án hình sự; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử nếu người phạm tội chết ở giai đoạn nào thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ vụ án ở giai đoạn đó. Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ vụ án trong trường hợp chưa đưa vụ án ra xét xử mà bị can bị hoặc bị cáo chết.

2. Có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo

- Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Điều 19 Bộ luật hình sự quy định: "Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này".

- Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa: Do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa về lý luận cũng như thực tiễn tuy có một số trường hợp khó xác định nhưng không khó bằng trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Trong thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng cũng rất ít áp dụng trường hợp này để miến trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

- Có quyết định đại xá: Người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự khi Nhà nước có quyết định đại xá. Đại xá là việc miễn trách nhiệm hình sự đối với một loại tội phạm hoặc một người phạm tội nhất định. Văn bản đại xá có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản đó xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá thì được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu đã khởi tố, truy tố hoặc xét xử thì phải đình chỉ, nếu đã chấp hành xong hình phạt thì được coi là không có án tích.

- Người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát giác: Tự thú là tự khai ra hành vi phạm tội của mình với các nhà chức trách. Việc người phạm tội tự khai ra hành vi phạm tội của mình với nhà chức trách là biểu hiện của sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình nên đáng được khoan hồng, nhưng mức độ khoan hồng tới đâu thì lại phải căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra; thái độ khai báo; sự góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm của người tự thú. Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được giảm nhẹ hình phạt; nếu cùng với việc tự thú mà còn lập công lớn, vận động được nhiều người khác đã phạm tội ra tự thú thì có thể được khen thưởng theo quy định chung của nhà nước.

- Người phạm tội chủ động ngăn chặn hậu quả của tội phạm: Người phạm tội chủ động ngăn chặn tức là chủ động làm cho hậu quả không xảy ra hoặc hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho Nhà nước hoặc cho công dân. Ngoài những trường hợp ngăn chăn hậu quả do tự thú, do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, thực tiễn xét xử còn nhiều trường hợp người phạm tội chủ động ngăn chặn hậu quả khi hành vi phạm tội đã được thực hiện, nếu người phạm tội không chủ động ngăn chặn thì hậu quả tất yếu sẽ xảy ra.

- Người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.(khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự): Đây là một trong những nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội, nhưng việc áp dụng nguyên tắc này cho đến nay chưa được hướng dẫn nên thực tiễn khởi tố, truy tố, xét xử còn ý kiến rất khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Nguồn: Toaan.gov.vn

Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6198
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]