Biện pháp ngăn chặn tạm giam

Biện pháp tạm giữ, tạm giam được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự hiện nay còn một số những bất cập trong quá trình áp dụng.

Đối với quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam bị can là người chưa thành niên, thực tế cho thấy quy định của BLTTHS hiện hành có nhiều bất cập, không sát thực tế và gây khó khăn trong quá trình điều tra, xử lí tội phạm. Theo tâm lí học lứa tuổi thì độ tuổi từ 14 đến 16 là rất hiếu động, là một trong những nguyên nhân làm cho một số người có hành vi vi phạm pháp luật nói chung và phạm tội nói riêng. Qua nghiên cứu các số liệu thống kê tội phạm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ công an cho thấy số đối tượng phạm tội thuộc lứa tuổi này không những chiếm tỉ lệ cao mà còn có những hành vi phạm tội rất manh động, có trường hợp gây thiệt hại lớn cho xã hội. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với những đối tượng có hành vi phạm tội thuộc lứa tuổi này là rất cần thiết để kịp thời ngăn chặn tội phạm. Nhiều đối tượng thuộc lứa tuổi từ 14 đến dưới 16 phạm tội nghiêm trọng do cố ý nhưng theo quy định tại Điều 303 BLTTHS thì không được bắt, tạm giữ, tạm giam mà phải để tại ngoại để điều tra. Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện cho đối tượng cản trở điều tra, che giấu tội phạm, tiêu huỷ vật chứng của vụ án. Trường hợp phải áp giải để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử cũng chỉ được diễn ra trong ngày, sau đó đối tượng không đến tiếp hoặc bỏ trốn thì cũng không được bắt và dù có bắt được cũng không được tạm giữ, tạm giam. Do vậy, đối với các đối tượng này nếu là bị can của vụ án, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 303 BLTTHS theo hướng tương tự như quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 88 BLTTHS, có nghĩa là nếu bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc đã được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như cho bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng lại tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

- Về biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Do quy định của BLTTHS năm 1988 không quy định rõ đối tượng áp dụng cho nên trong thực tế đã có trường hợp nhầm lẫn, áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố về hình sự.

BLTTHS năm 2003 quy định về biện pháp ngăn chặn này đã rõ ràng hơn, nêu cụ thể về đối tượng áp dụng, thẩm quyền ra quyết định áp dụng, trình tự thủ tục áp dụng và mối quan hệ tố tụng giữa cơ quan tiến hành tố tụng với chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này cho nên việc áp dụng có nhiều thuận lợi, dễ dàng. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 91 BLTTHS năm 2003 mới chỉ quy định điều kiện đối với bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn này là có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo có sự quản lí của chính quyền địa phương. Trường hợp bị can, bị cáo có ý định bỏ trốn thì chính quyền địa phương nơi người đó cư trú khó có thể quản lí và ngăn chặn được, do đó cần phải lưu ý thêm về điều kiện nhân thân của bị can, bị cáo. Vì lẽ đó, chúng tôi đề nghị phải quy định cụ thể hơn về điều kiện nhân thân bị can và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị can, bị cáo để quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Khoản 3 Điều 91 BLTTHS cần quy định cụ thể hơn là “bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam”, không nên quy định chung chung là sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Nguồn: Tks.edu.vn


Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6218
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]