Hành vi khám xét nhà vào ban đêm có hợp pháp hay không?

Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật

Hỏi: Tôi là sinh viên, ở trọ tại Hà Nội. Đêm hôm trước, đột nhiên có 2 người, 1 người mặc đồng phục công an, 1 người mặc quần áo như bảo vệ đến và yêu cầu tôi mở cửa để kiểm tra. Tôi có hỏi lý do và yêu cầu xuất trình lệnh khám thì vị cảnh sát (thật hay giả không biết) nói rằng mở cửa để kiểm tra tạm trú, không cần lệnh khám vì anh ta là cảnh sát khu vực. Tôi cảm thấy bị xâm phạm quyền công dân nên đã từ chối. Sau đó, cảnh sát nói là "nghi ngờ có đối tượng truy nã trong nhà, yêu cầu mở cửa”. Tôi nhất định không mở cửa khi không có lệnh khám nhà. Tôi xin hỏi, khi nào người dân bắt buộc phải mở cửa để khám nhà? Có quy định pháp luật nào bảo vệ quyền lợi cho tôi trong trường hợp này không? (Hoài Anh - Nam Định)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Hoài Thu - Tổ tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

- Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử như sau: "1. Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã.2. Khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm".

Như vậy, trước khi tiến hành khám xét, người khám xét phải có lệnh khám xét do người có thẩm quyền ra quyết định.

- Đối với việc kiểm tra cư trú, cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân và công an xã có quyền kiểm tra cứ trú, căn cứ theo Điều 26 của thông tư số 35/2014/TT-BCA quy định về Kiểm tra cư trú như sau:"1. Hình thức kiểm tra cư trú được tiến hành định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự.2. Đối tượng kiểm tra cư trú là công dân, hộ gia đình, cơ sở cho thuê lưu trú, cơ quan đăng ký, quản lý cư trú các cấp; cơ quan, tổ chức có liên quan đến quản lý cư trú.3. Nội dung kiểm tra cư trú bao gồm kiểm tra việc triển khai và tổ chức thực hiện các nội dung đăng ký, quản lý cư trú; quyền và trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức; các nội dung khác theo pháp luật cư trú.4. Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Công an xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn có quyền kiểm tra trực tiếp hoặc phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức thuộc địa bàn quản lý. Khi kiểm tra được quyền huy động lực lượng quần chúng làm công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức cùng tham gia.5. Việc kiểm tra cư trú của Công an cấp trên tại địa bàn dân cư phải có cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Công an xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn chứng kiến”.

Đối chiếu với trường hợp của anh (chị) lo rằng người đến kiểm tra cư trú là người giả mạo, không có thẩm quyền kiểm tra thì anh (chị) có thể yêu cầu người thực hiện kiểm tra xuất trình thẻ ngành, giấy chứng nhận công an xã, nội dung kiểm tra có liên quan đến chính mình.Khi có căn cứ về hành vi kiểm tra hành chính của người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân thì người dân có quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.