Người chưa thành niên phạm tội có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Hỏi: Ngày 15/10/2016, con trai tôi đang trên đường từ trường về nhà, khi đi đến ngã tư do không để ý cháu đã vượt đèn đỏ dẫn đến gây tai nạn cho một bà lão đang đi qua đường. Mặc dù không dẫn đến tử vong nhưng bà cụ bị gẫy tay và chấn thương nặng. Tuy nhiên hiện nay con trai tôi 15 tuổi. Đề nghị Luật sư tư vấn trong trường hợp này con trai tôi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Gia đình chúng tôi sẽ phải đền bù những gì cho gia đình nạn nhân? (Vũ Văn Tuấn - Quảng Ninh)


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Vũ Thị Huyền Trang - Tổ tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Liên quan tới vấn đề anh (chị) hỏi, chúng tôi xin trích dẫn một số quy định củaBộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS)như sau:

- Độtuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" ( Điều 12).

- Mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù, tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm, tù chung thân hoặc tử hình” (Khoản 3 Điều 8).

- Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định; b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác; c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm" (Điều 202).

Theo quy định tại điều trên, hiện nay con trai anh mặc dù đã trên 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi do đó cháu chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu như tội phạm đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Để xác định tội phạm của con trai anh là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì phải xác định mức án cao nhất mà con anh có thể phải nhận với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ( Điều 202 BLHS).

Điều 202 BLHS xếp tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là loại tội phạm nghiêm trọng. Do đó con trai anh sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên con trai anh sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự và gia đình sẽ phải tiến hành bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình nạn nhân.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.