Người làm chứng được quy định như thế nào trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015?

Người làm chứng được quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Theo khoản 1 Điều 66 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198


Căn cứ pháp lý về quy định người làm chứng


Bị can được quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 (gọi tắt là ‘BLTTHS”), như sau:

"1- Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

2- Những người sau đây không được làm chứng:a- Người bào chữa của người bị buộc tội;b- Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

3- Người làm chứng có quyền:a- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;b- Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;c- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;d- Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

4- Người làm chứng có nghĩa vụ:a- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;b- Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.

5- Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

6- Cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng."

Bình luận về quy định của người làm chứng tại Bộ luật này

Thứ nhất, người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, có ý nghĩa đối với việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập tham gia để khai báo về những sự việc cần xác minh trong vụ án.

Thứ hai, người làm chứng là người biết được những tình tiết của vụ án. Họ có thể trực tiếp nhìn thấy, hoặc trực tiếp nghe thấy, hoặc có thể nghe người khác kể lại những tình tiết liên quan đến vụ án. Người làm chứng là người không thể thay thế trong tố tụng, bởi lẽ, họ tham gia tố tụng không phụ thuộc vào ý chí của họ hay ý chí của những người tiến hành tố tụng, mà do chính họ biết được những tình tiết của vụ án bằng việc nhìn thấy hay nghe được.

Thứ ba, người làm chứng là người nhìn thấy hoặc nghe thấy, tức là có khả năng nhận thức và khả năng khai báo, cho nên nếu người làm chứng có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà không có khả năng khai báo đúng đắn thì không thể trở thành người làm chứng. Trong trường hợp có sự nghi ngờ người biết được các tình tiết có liên quan đến vụ án là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, thì cần thiết phải tiến hành giám định.

Thứ tư, để bảo đảm tính khách quan của vụ án, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ những trường hợp không được làm chứng. Theo khoản 2 điều luật đang được bình luận, những người sau đây không được chứng:

Một là, người bào chữa của người bị buộc tội;

Hai là, người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

Thứ năm, người làm chứng là người tham gia tố tụng. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng hình sự.

Thứ sáu, người làm chứng có thể bị nguy hiểm hoặc chịu những hậu quả bất lợi do việc tham gia khai báo về những tình tiết của vụ án. Theo khoản 3 Điều luật đang được bình luận, so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quyền của người làm chứng được quy định cụ thể, chặt chẽ hơn, giới hạn chỉ xoay quanh việc tham gia làm chứng:

Một là, được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định;

Hai là, yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

Ba là, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;

Bốn là, điều này giúp tạo cơ sở cho việc bảo vệ người làm chứng một cách tốt hơn. Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho người làm chứng được thực hiện các quyền của họ.

Thứ bảy, để đảm bảo cho hoạt động tố tụng của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án. Khoản 4 Điều luật đang được bình luận quy định người làm chứng có các nghĩa vụ nhất định như sau:

Một là, có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;

Hai là, trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.

Thứ tám, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ những trường hợp người làm chứng phải chịu trách nhiệm hình sự: Khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báọ mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.


Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:
  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: [email protected]