Quy định của pháp luật về tội giết con mới đẻ

Tội giết con mới đẻ là trường hợp phạm tội của người mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ do mình sinh ra.

Nguyên nhân của tình trạng giết con mới đẻ có thể do nhận thức, do điều kiện kinh tế hoặc do lý do khác, ví dụ sự tồn tại của đứa bé là kết quả của việc bị hiếp dâm hay một cuộc tình không mong muốn. Do đó, pháp luật xác định người mẹgiết con mới đẻ là phạm tội (giết người) nhưng quy định thành tội danh riêng, có mức hình phạt nhẹ hơn tội giết người.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Thứ nhất, căn cứ pháp lý của tội giết con mới đẻ


Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: "Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

Tội giết con mới đẻ là trường hợp đặc biệt của tội giết người (Trong Bộ luật Hình sự năm 1985 giết con mới đẻ được quy định là trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt của tội giết người mà không quy định riêng thành một tội phạm độc lập như Bộ luật Hình sự hiện hành). Chủ thể của tội giết con mới đẻ là tội phạm có chủ thể đặc biệt chỉ là người mẹ. Bởi lẽ, chỉ có người mẹ mới có thể lâm vào tình trạng tâm sinh lý không bình thường do tác động của việc sinh con mà giết đứa con do mình sinh ra. Nếu người cha mà giết con mới đẻ thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

Thứ hai, các yếu tố cấu thành tội giết con mới đẻ

(i) Mặt khách quan của tội giết con mới đẻ:Hành vi khách quan của tội này là người mẹ thực hiện hành vi giết (bóp cổ, bỏ đói cho đến chết,…) đứa con mới sinh của mình trong vòng 07 ngày tuổi. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã tước đoạt đi tính mạng của đứa trẻ.

Hậu quả của tội này là đứa trẻ bị chết. Để cấu thành tội giết con mới đẻ thì nguyên nhân đứa trẻ bị chết phải là do hành vi giết con mới đẻ của người mẹ và hành vi giết con này phải xuất phát từ những ảnh hưởng nặng nề của của tư tưởng lạc hậu hoặc do hoàn cảnh khách quan đặc biệt. Trường hợp người mẹ giết con mới đẻ trong vòng 07 ngày tuổi của mình nhưng xuất phát từ những nguyên nhân không phải là nguyên nhân được mô tả trong Điều 124 Bộ luật Hình sự thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

(ii) Mặt chủ quan của tội giết con mới đẻ:Người phạm tội giết con mới đẻ luôn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Người phạm tội có thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng của đứa con nhưng vẫn mong muốn và cố ý để tước đi tính mạng của đứa trẻ.

(iii) Khách thể của tội giết con mới đẻ:Tội giết con mới đẻ là trường hợp đặc biệt của tội giết người, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ nhân thân. Tội giết con mới đẻ trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người mà đối tượng bị xâm hại là trẻ mới được sinh ra trong vòng 07 ngày tuổi, đồng thời lại chính là con của người phạm tội.

(iv) Chủ thể của tội giết con mới đẻ:Chủ thể của tội này chỉ có thể là người mẹ của đứa con bị giết. Bởi vì người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết.

Luật sư Nguyễn Thị Phương Hoa - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198
Luật sư Nguyễn Thị Phương Hoa - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198

Thứ ba, hình phạt đối với tội giết con mới đẻ

Vì tội giết con mới đẻ là tội đặc biệt, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội là do bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt nên mức hình phạt của tội này nhẹ hơn so với tội giết con mới đẻ. Những người phạm tội giết con mới đẻ sẽ phải chịu mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Luật sư Nguyễn Thị Phương Hoa - Phòng tranh tụng của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp.

Xem thêm:


Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: [email protected]