Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc xử lý như thế nào?

Tổ chức đánh bạc là hành vi tập hợp, rủ rê, lôi kéo nhiều người tham gia vào việc đánh bạc. Gá bạc là hành vi cho thuê, cho mượn, hoặc đi thuê, đi mượn địa điểm, phương tiện để cho người khác sử dụng làm nơi tập tụ đánh bạc.

Cũng như tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là tội phạm nằm trong nhóm tội xâm phạm đến trật tự công cộng được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Thứ nhất, về căn cứ pháp lý

Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: "1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: (a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên; (b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên; (c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên; (d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc; (đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: (a) Có tính chất chuyên nghiệp; (b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên; (c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội; (d) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Như vậy, người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép mà thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội tương ứng với khung hình phạt điều chỉnh hành vi đó.

Đối với trường hợp chưa thỏa mãn các dấu hiệu để cấu thành tội phạm theo luật hình sự thì người tổ chức đánh bạc bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó, người tổ chức đánh bạc có hành vi được quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP bị xử lý vi phạm hành chính với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; người tổ chức đánh đề theo khoản 5 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP sẽ bị xử lý vi phạm hành chính với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra, người có hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung. Đối với người nước ngoài thì có thể bị trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai, các dấu hiệu cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

(i) Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan:

- Đối với tội tổ chức đánh bạc: có hành vi tập hợp, rủ rê, lôi kéo nhiều người (từ hai người trở lên) tham gia đánh bạc. Thông thường người đứng ra tổ chức có sự chuẩn bị, bàn bạc, sắp xếp kế hoạch đánh bạc rồi mới tập hợp, rủ rê những người khác tham gia.

- Đối với tội gá bạc: có hành vi cho thuê, cho mượn hoặc đi thuê, mượn địa điểm, phương tiện để người khác sử dụng làm nơi đánh bạc.

Cũng như tội đánh bạc, hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi đó là hành vi trái phép. Đối với hành vi tổ chức đánh bạc đã được cấp phép thì không bị coi là vi phạm pháp luật.

Hậu quả: Cũng như tội đánh bạc, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Chỉ cần người phạm tội có hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thỏa mãn dấu hiệu khách quan được quy định trong điều luật thì đã cấu thành tội phạm.

(ii) Khách thể của tội phạm

Cũng như đối với tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là tội xâm phạm đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, vì cờ bạc nói chung và tổ chức hoặc gá bạc nói riêng cũng là một tệ nạn của xã hội.

(iii) Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hoặc buộc phải biết hành vi của mình là trái phép, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện.

Mục đích của người phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là thu lợi bất chính từ các con bạc.

(iv) Chủ thể của tội phạm

Cũng tương tự như tội đánh bạc, chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi đều có thể là chủ thể của tội phạm này.

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì những người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

Đối với những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ được áp dụng những quy định của pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ ba, về hình phạt

Mức phạt của tội này được chia thành 02 khung tương ứng với 02 khoản được quy định tại Điều 322 như sau:

(i) Khung 1 (tương ứng với khoản 1): phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

(ii) Khung 2 (tương ứng với khoản 2): phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Như vậy, đối với trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng 01 trong hai hình phạt chính là phạt tiền và phạt tù giam.

Nếu hình phạt chính của người phạm tội là phạt tù thì người phạm tội còn có thể phải chịu thêm hình phạt bổ sung với mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật gia Nguyễn Thị Phương Hoa - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, tổng hợp.

Khuyến nghị:
  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: [email protected], [email protected]