Sự khác nhau giữa che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm

Điểm khác nhau giữa che dấu tội phạm và không tố giác tội phạm là về chủ thể, thời gian thực hiện và hình phạt cụ thể đối với từng loại tội.

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định như sau:

Về che giấu tội phạm: “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định” (Điều 21).

Về không tố giác tội phạm: “1. Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này. 2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này” (Điều 22).

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7): 1900 6198

Theo đó, điểm khác nhau giữa che dấu tội phạm và không tố giác tội phạm là về chủ thể, thời gian thực hiện và hình phạt cụ thể đối với từng loại tội.

-Về chủ thể:

Chủ thể của che dấu tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật hình sự 1999 quy định.

Còn chủ thể của không tố giác tội phạm là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định; trừ ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nếu tội phạm đó không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác đặc biệt nghiêm trọng.

-Về thời gian thực hiện

Trường hợp che dấu tội phạm là hành vi của người phạm tội không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Như vậy, thời điểm là biết sau khi tội phạm được thực hiện.

Còn với trường hợp không tố giác tội phạm thì người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác. Có nghĩa là, thời điểm là biết trước khi, đang khi hoặc sau khi tội phạm được thực hiện.

-Về hình phạt

Tội che giấu tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự, theo đó hình phạt tù cao nhất là 05 năm; nếu phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì mức hình phạt cao nhất là 07 năm.

Tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 314 Bộ luật Hình sự, theo đó hình phạt tù cao nhất đối với loại tội phạm này là 03 năm tù.


Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6218
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]