Thời hạn quyết định việc truy tố

Thời hạn quyết định truy tố là khoảng thời giantừ cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát đến khi Viện kiểm sát đưa ra một trong các quyết định truy tố, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Thời hạn quyết định việc truy tố quy định tại điều 166 Bộ luât tố tụng hình sự 2003

“Điều 166. Thời hạn quyết định truy tố
1. Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:
a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng;
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.
2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án.
4. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.”
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Bình luận

1. Thời hạn quyết định truy tố là khoảng thời gian kể từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án hình sự do cơ quan điều tra, hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến có bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, cho đến khi Viện kiểm sát đưa ra một trong các quyết định truy tố, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Quy định thời hạn quyết định truy tố, nhà làm luật nhằm buộc các cơ quan Viện kiểm sát phải tiến hành nhanh chóng việc nghiên cứu hồ sơ vụ án được chuyển đến và đưa ra quyết định trong một thời hạn nhất định sớm nhất, nhằm khắc phục tình trạng tồn đọng án dẫn đến vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống tư pháp hình sự.

Điều luật quy định hai loại thời hạn trên cơ sở phân loại tội phạm tại Điều 8 của Bộ luật hình sự. Do tính chất của vụ án hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng có phần ít phức tạp hơn so với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, cho nên nhu cầu về thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng cũng ngắn hơn. Xuất phát từ đó, nhà làm luật quy định đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, thời hạn quyết định truy tố là hai mươi ngày; còn đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn quyết định truy tố là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra.

2. Điều luật quy định, sau khi nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Quyết định truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng là quyết định của Viện kiểm sát khi xét thấy hồ sơ vụ án thể hiện quá trình điều tra được tiến hành một cách chặt chẽ, đúng quy định của Bộ luật hình sự, quá trình tổ chức tiến hành các hoạt động điều tra và các trình tự, thủ tục tố tụng phản ánh trong hồ sơ tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời bản kết luận điều tra được lập đúng pháp luật, có căn cứ pháp lý vững chắc, đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm.

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là quyết định của Viện kiểm sát trong trường hợp, hồ sơ vụ án phản ánh quá trình điều tra chưa đầy đủ, chưa toàn diện, có những sai lầm về thủ tục tố tụng hoặc thiếu sót trong quá trình điều tra nên thiếu chứng cứ chứng minh những tình tiết quan trọng trong vụ án, có những hành vi hoặc người đồng phạm chưa được làm sáng tỏ, có căn cứ khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc người đồng phạm khác thì Viện kiểm sát trả lại hồ sơ yêu cầu cơ quan điều tra điều tra bổ sung.

Đình chỉ vụ án là quyết định của Viện kiểm sát sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, căn cứ vào Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự thấy rằng có những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc tại Điều 19, Điều 25, và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự.

Tạm đình chỉ vụ án là quyết định của Viện kiểm sát trong các trường hợp:

a. Khi Viện kiểm sát nhận và nghiên cứu hồ sơ thì bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng pháp y. Bệnh tâm thần hoặc bênh hiểm nghèo khác ở đây phải là bệnh vừa phát hiện trong thời gian Viện kiểm sát nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra. Điều này khẳng định là bản kết luận điều tra có đủ căn cứ pháp lý, hợp pháp. Trong trường hợp này, nếu xét thấy cần thiết Viện kiểm sát có thể trưng cầu giám định đối với Hội đồng này.

b. Sau khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra thì bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can ở đâu. Viện kiểm sát tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can. Vụ án sẽ được phục hồi khi bắt được hoặc xác định được bị can đang ở đâu.

3. Điều luật quy định, trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can.

Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.

4. Căn cứ vào khoản 1 của Điều luật trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp cần thiết nói ở đây là do những lý do khách quan, do những tình tiết phức tạp trong vụ án mà Viện kiểm sát thấy cần phải điều tra nghiên cứu thêm, sâu hơn và phải có thời gian để tiến hành những biện pháp nhằm kiểm tra lại tính đúng đắn của các kết luận điều tra và các chứng cứ của vụ án.

2. Khoản 2 của Điều luật quy định, sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1.

Việc cho phép áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn ở giai đoạn này, đặc biệt là sau khi Viện kiểm sát đã nghiên cứu hồ sơ là nhằm nhanh chóng khắc phục những sai lầm có thể có trong những giai đoạn trước đó có thể gây tổn hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của bị can (trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn quá nghiêm khắc không phù hợp với tính chất vụ án và không có đủ những căn cứ áp dụng) hoặc cũng có thể nhằm ngăn chặn sự bỏ trốn của bị can (khi mà tình tiết của vụ án đã sáng tỏ, những thủ đoạn che giấu của bị can đã bị bóc trần và bị can có thể nhận ra khả năng bị áp dụng một hình phạt thích đáng). Tuy nhiên, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam không được quá hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

6. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Toà án có thẩm quyền xét xử (theo Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự).

7. Khoản 4 của Điều luật quy định, trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền

(Nguồn: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự)

Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6218
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]