Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự

Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự được quy định tại điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ có vai trò lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự trong một số trường hợp nhất định.

Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án như sau:

"1. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự.
2. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong những trường hợp sau đây: a) Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y; b) Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.
3. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
4. Trong trường hợp quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố".
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Bình luận

1. Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án là những quyết định của Viện kiểm sát sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra do cơ quan điều tra gửi đến thấy rằng có những căn cứ pháp lý để không khởi tố vụ án hình sự hoặc phải tạm đình chỉ vụ án do bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác, hoặc không biết rõ bị can ở đâu cần phải truy nã.

2. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án trong các trường hợp:

- Khi có những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, tức là trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà sơ thẩm;

- Khi có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự đối với vụ án đã bị khởi tố, điều tra và bị can trong vụ án đó;

- Khi có căn cứ quy định tại các điều 19, 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự. Tức là những chứng cứ trong hồ sơ cho phép kết luận: bị can đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nên được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; hoặc do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; hoặc có thể bị can đã tự thú, khai báo rõ sự việc, góp phần tích cực có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm mà Viện kiểm sát thấy rằng có thể cho miễn trách nhiệm hình sự; hoặc có quyết định đại xá.

3. Theo quy định tại khoản 2 của Điều luật, Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong những trường hợp sau đây:

a. Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;

b. Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu. Điều luật cũng quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.

4. Khoản 4 của Điều luật cho phép trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can. Điều đó được hiểu rằng, nếu có các căn cứ nêu tại các điểm 2, 3, 4, 7 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, tức là đối với các trường hợp: hành vi của bị can nào đó không cấu thành tội phạm; có bị can nào đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có bị can trong vụ án hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật hoặc bị can đã chết, thì Viện kiểm sát có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ đối với các bị can đó.

5. Trong trường hợp quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền huỷ bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố. Theo quy định của Điều luật có thể hiểu bất cứ một cấp trên nào (không nhất thiết phải là trực tiếp) theo ngành dọc của Viện kiểm sát nếu phát hiện thấy quyết định đình chỉ vụ án của cấp dưới của mình là không có căn cứ hoặc trái pháp luật đều có quyền hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu cấp đã ra quyết định đình chỉ đó phải ra quyết định truy tố.

(Nguồn: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự)

Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụ:
  1. Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Văn phòng giao dịch: Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Điện thoại: (04) 66.527.527 - Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900-6218
  4. E-mail:[email protected], hoặc E-mail: [email protected]