Giảm hình phạt đối với người thành khẩn khai báo hành vi phạm tội

Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: Giết nhiều người; Giết phụ nữ mà biết là có thai...

Hỏi: A và B là hàng xóm của nhau. Ngày 23/9, B có rủ một số người bạn đến nhà mình uống rượu, đến 22h cùng ngày, A đi làm về ngang qua nhà B thấy B ngồi uống rượu một mình nên có nói chuyện vài câu. Sau đó, B đang cơn ngà ngà say, hai người xảy ra cãi vã và đánh nhau, B với lấy con dao gọt hoa quả trong nhà đâm A thì A đỡ được. Đang trong cơn giận dữ, A với lấy con dao đâm B, khiến B tử vong trên đường đến bệnh viện. Ngay sau khi biết B chết, A lập tức đến cơ quan công an tự thú và thành khẩn khai báo hành vi của mình. Đề nghi Luật sư tư vấn, liệu A có được giảm hình phạt đối với hành vi phạm tội của mình nếu thành khẩn khai báo không? (Lê Văn Tiến - Thanh Hoá)
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Thuỳ - Tổ tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Liên quan tới vấn đề anh (chị) hỏi, chúng tôi xin trích dẫn một số quy định của Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

- Tội giết người "1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết nhiều người; b) Giết phụ nữ mà biết là có thai; c) Giết trẻ em; d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm; q) Vì động cơ đê hèn. 2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm” (Điều 93).

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: o) Người phạm tội tự thú; p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” (Khoản 1 Điều 46).

- Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật "Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” (Điều 47).

Như vậy, trong trường hợp của anh thì anh đã phạm phải tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm. Tuy nhiên, ngay sau đó anh đã đi ra cơ quan công an đầu thú nên anh sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Nếu trong quá trình điều tra, anh có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo thì anh sẽ được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Khi đó, trong trường hợp của anh, anh được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ, nên theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt đối với anh có thể là mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc ít hơn.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.