Buôn bán trái phép hàng hoá qua biên giới trị có phải chịu trách nhiệm hình sự?

Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm...

Hỏi: Chị tôi là tiếp viên hàng không, ngày 10/12, chị tôi bị cơ quan công an ở sân bay bắt giữ vì phát hiện trong vali của chị tôi chứa rất nhiều quần áo trị giá khoảng 25 triệu đồng, chị tôi đã thừa nhận thường mang đồ về Việt Nam để bán kiếm thêm thu nhập. Đề nghị Luật sư tư vấn, chị tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng hoá trái phép qua biên giới hay không? (Hồng Minh – Hà Nội)


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Thuỳ - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội buôn lậu như sau: “1. Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: a) Hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này; b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp;… k) Phạm tội nhiều lần;….”.

Đối chiếu với trường hợp của anh (chị) thì giá trị tài sản do chị của anh (chị) vận chuyển khoảng 25 triệu đồng, tức là nhỏ hơn mức giới hạn 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng quy định tại khoản 1 Điều 153 đối với trường hợp chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào. Tuy nhiên, theo như anh (chị) có nêu thì chị của anh (chị) đã thừa nhận nhiều lần thực hiện hành vi xách tay hàng hoá về Việt Nam nhằm kiếm thêm thu nhập. Do đó, nếu tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội của chị anh (chị) cộng lại mà trong giới hạn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này theo khoản 2 Điều 153 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.