Đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự

Việc đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án là việc cần phải làm khi có một trong những căn cứ tạm đình chỉ tại điều 281 và đình chỉ vụ án tại điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quyết định về đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án là văn bản áp dụng pháp luật do thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định chấm dứt quan hệ pháp luật hoặc ngừng tiến hành tố tụng trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Thứ nhất, về vấn đề tạm đình chỉ vụ án

(i) Vấn đề tạm đình chỉ vụ án được quy định cụ thể tại điều 281 Bộ luật tố tụng hình sư năm 2015, theo đó:

“1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 cùa Bộ luật này;

b) Không biết rỗ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;

c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.

2. Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đỉnh chi không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chi vụ án đổi với từng bị can, bị cáo.

3. Quyết định tạm đình chi vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chi và các nội dung quy định tại khoản 2 Điểu 132 của Bộ luật này”.

(ii) Bình luận về vấn đề tạm đình chỉ vụ án

1. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra do cơ quan điều tra gửi đến thấy rằng có những căn cứ pháp lý để không khởi tố vụ án hình sự hoặc phải tạm đình chỉ vụ án do bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác, hoặc không biết rõ bị can ở đâu cần phải truy nã thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.

2. Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án trong các trường hợp:

Có căn cứ quy định tại điêm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này;

Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chi vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;

Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.

Điều luật cho phép trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chi vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chi hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

3.Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khi ra quvết định tạm đình chi vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Thứ hai, về vấn đề đình chỉ vụ án

(i)Quy định về vấn đề đình chỉ vụ án, điều 282 đã nêu rõ:

“1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này;

b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chi vụ án không liên quan đến tai ca bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đinh chỉ và cắc nội dung quy định tại khoản 2 Điêu 132 của Bộ luật này.”

(ii) Bình luận về vấn đề đình chỉ vụ án

1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

Khi có những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, tức là trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm; hoặc khi có các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại các điểm 3,4, 5,6, và 7 của Điều 157 Bộ luật này.

Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự mà sau đó Viện kiểm sát nút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

Trong trường hợp quyết định đình chi vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố. Theo quy định của Điều luật có thể hiểu bất cứ một cấp trên nào (không nhất thiết phải là trực tiếp) theo ngành dọc của Viện kiểm sát nếu phát hiện thay quyết định đình chỉ vụ án của cấp dưới của mình là không có căn cứ hoặc trái pháp luật đều có quyền hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu cấp đã ra quyết định đình chỉ đó phải ra quyết định truy tô.

2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: [email protected]